Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Hòa Bình.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Giáo án cả năm

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Vũ Ngọc Bích
Ngày gửi: 21h:29' 21-11-2024
Dung lượng: 58.8 KB
Số lượt tải: 53
Nguồn:
Người gửi: Vũ Ngọc Bích
Ngày gửi: 21h:29' 21-11-2024
Dung lượng: 58.8 KB
Số lượt tải: 53
Số lượt thích:
0 người
Ngày soạn:
Lớp
Ngày giảng
Sĩ số
Tiết 22,23,24:
VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT
I. MỤC TIÊU BÀI DẠY
1. Kiến thức
- Nhận biết và biết cách viết bài nghị luận một tác phẩm nghệ thuật tự chọn (điện ảnh, sân khấu, âm
nhạc, hội họa…)
2. Năng lực
* Năng lực chung:
- Biết thuyết trình về một vấn đề, có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ với các phương tiện giao
tiếp phi ngôn ngữ.
- Nghe và nắm bắt được nội dung truyết trình, quan điểm của người nói về một vấn đề;
- Nhận xét về nội dung và hình thức thuyết trình; đưa ra được những căn cứ thuyết phục để bảo vệ hay
bác bỏ một ý kiến nào đó về một vấn đề trên tinh thần tôn trọng người đối thoại.
- Năng lực sáng tạo: Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề, biết đề xuất và phân
tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; thiết kế hoạt động và tư duy độc lập.
- Năng lực hợp tác, năng lực tự chủ và tự học.
* Năng lực đặc thù
- Năng lực ngôn ngữ Tiếng Việt: Nhận biết và biết cách viết bài nghị luận một tác phẩm nghệ thuật tự
chọn (điện ảnh, sân khấu, âm nhạc, hội họa…)
3. Phẩm chất
- Bài học góp phần phát triển phẩm chất trách nhiệm: HS tích cực, chủ động trong học tập để vận dụng
kiến thức vào cuộc sống.
- Bài học góp phần hình thành tính cách tự tin khi trình bày kiến thức về văn học
- Hình thành nhân cách bồi dưỡng tình cảm: tình yêu với môn Văn
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Bài giảng PP,
- Máy chiếu, SGK, SGV Ngữ văn, tài liệu tham khảo,
- Phiếu học tập,
- Phiếu đánh giá, biên bản làm việc nhóm.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
I.
Kiến thức chung
1. Khái niệm
Nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật có thể là bài luận bàn về một tác phẩm văn học (toàn bộ hoặc
đoạn trích) hoặc một bài nghị luận phân tích cái hay, cái đẹp của một vở kịch, bộ phim, bài hát, bức
tranh, pho tượng,…Bài nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật thường nêu lên nội dung và một số nét
hình thức đặc sắc của tác phẩm nghệ thuật. Từ đó, người viết nhận xét, đánh giá về tác phẩm ấy.
2. Để viết bài nghị luận phân tích tác phẩm nghệ thuật, cần chú ý:
- Tìm hiểu kĩ về tác phẩm nghệ thuật được phân tích.
- Nắm được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thông qua một số chi tiết cụ
thể.
- Nêu được nhận xét cá nhân về ưu điểm và hạn chế của tác phẩm được phân tích.
- Tìm ý và lập dàn ý cho bài viết.
3.Dàn ý
- Lập dàn ý cho bài viết bằng cách lựa chọn, sắp xếp các ý theo bố cục ba phần:
Mở bài
Giới thiệu bộ phim (vở kịch, bài hát) và nêu khái quát điểm đặc sắc.
Thân bài
Nêu các ý cụ thể phân tích bộ phim (vở kịch, bài hát):
+ Phân tích nội dung, ý nghĩa của bộ phim (vở kịch, bài hát).
+ Phân tích các điểm đặc sắc về hình thức bộ phim (vở kịch, bài hát).
+ Nêu các nhận xét của người viết về thành công và hạn chế của bộ phim (vở kịch, bài hát).
Kết bài
Nêu đánh giá khái quát về bộ phim (vở kịch, bài hát): giá trị thời sự, hiệu quả tác động tới người xem,
dư luận xã hội về bộ phim (vở kịch, bài hát) đó.
II.
Luyện đề
Đề 1. Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng – Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.
Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”.
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì!”
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.
1. Mở bài:
- Tác giả: Đại thi hào Nguyễn Du, là danh nhân văn hóa Việt Nam.
- Tác phẩm: Trích truyện Kiều nói lên tính cách và chí khí anh hùng của Từ Hải.
MB mẫu:
Tố Hữu đã từng dành những lời ngợi ca sâu sắc nhất cho một nhà đại thi sĩ rằng:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu”
Người đó không ai khác chính là Nguyễn Du cùng với kiệt tác Truyện Kiều. Mỗi một đoạn, mỗi câu
thơ trong Truyện Kiều đều là “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” mà thi gia dầy công chắp bút. Ở
đó, ẩn sau số phận cuộc đời mỗi nhân vật đã được nhà đại thi hào của dân tộc chúng ta gửi gắm biết
bao giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Và trong số những trích đoạn của “Truyện Kiều”, đoạn trích
“Chí khí anh hùng” chính là một trong những minh chứng tiêu biểu nhất với sự phản ánh chân thực
giấc mơ tự do công lí , khát vọng làm nên sự nghiệp lớn của người anh hùng…
2. Thân bài:
a. Khái quát
- Đoạn trích “Chí khí anh hùng” thuộc phần Gia biến và lưu lạc (từ câu 2213 đến câu 2230).
- Nội dung chính: Cuộc đời Kiều tưởng chừng như sẽ rơi vào bế tắc khi lần thứ hai rơi vào lầu xanh.
Thì bỗng nhiên Từ Hải xuất hiện và cứu nàng thoát khỏi cảnh ô nhục. Từ Hải đã cho Kiều một danh
phận cũng như giúp nàng báo ân, báo oán. Nửa năm trôi qua, cuộc sống của hai người đương hạnh
phúc. Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm mà muốn có sự nghiệp lớn nên đã từ biệt Kiều ra
đi để gây dựng sự nghiệp.
b. Phân tích
*. Khát vọng lên đường của Từ Hải (4 câu đầu)
- Hoàn cảnh chia tay: Thúy Kiều và Từ Hải đang có cuộc sống hạnh phúc “hương lửa đương nồng”
(cuộc sống vợ chồng đằm thắm mặn nồng)
- Hình ảnh Từ Hải:
+ Trượng phu: chỉ người đàn ông có chí khí, bậc anh hùng
→ Thái độ trân trọng, kính phục của Nguyễn Du đối với Từ Hải
+ Thoắt: dứt khoát, mau lẹ, nhanh chóng
+ Động lòng bốn phương: trong lòng nao nức chí tung hoành bốn phương
+ Ánh mắt trông vào “trời bể mênh mang” là ánh nhìn hướng đến một khoảng không gian xa hơn rộng
hơn nơi mà bậc hào kiệt thỏa chí vẫy vùng với những đam mê, lí tưởng.
+ Lên đường thẳng rong: đi liền một mạch → Một tư thế đẹp, hiên ngang, không vướng bận của
người quân tử sẵn sàng lên đường
-> Từ Hải đã thoát khỏi tình cảm cá nhân nhanh chóng đi làm việc lớn của cuộc đời.
⇒ Bốn câu thơ đầu thể hiện một khát vọng thực hiện chí lớn của chàng anh hùng họ Từ. Khát vọng
ấy không những được đặt trong một bối cảnh đặc biệt để thấy một Từ Hải không quyến luyến, bịn rịn,
không vì tình yêu mà quên đi lí tưởng cao cả; mà còn được đặt trong một không gian vũ trụ rộng lớn
để tôn lên tầm vóc người anh hùng.
*. Cuộc đối thoại giữa Từ Hải và Thúy Kiều (12 câu tiếp theo)
Lời của Thúy Kiều
- Xưng hô: chàng – thiếp
→ Tình cảm vợ chồng mặn nồng, thắm thiết
- Phận gái chữ tòng: bổn phận của người vợ phải theo chồng
- Một lòng xin đi: quyết tâm theo Từ Hải
⇒ Thúy Kiều không chỉ ý thức được bổn phận người vợ, thể hiện tình yêu với chồng mà còn hiểu,
khâm phục và kính trọng Từ Hải. Nàng xứng đáng là tri kỉ của bậc anh hùng
Lời của Từ Hải
- Lời đáp của Từ Hải:
+ Từ chối mong muốn của Thúy Kiều:
+ Khuyên Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng làm vợ anh hùng
+ Coi Kiều là tri kỉ, là người hiểu mình
→ Tính cách anh hùng của Từ Hải
- Lời hứa của Từ Hải:
+ Rõ mặt phi thường: tạo nên sự nghiệp xuất chúng, phi thường. Đó chính là niềm tin vào bản thân,
vào sự nghiệp của mình
+ Rước nàng nghi gia.: hứa đón Kiều trở về
→ Người anh hùng có chí khí, có sự thống nhất giữa lí trí, khát vọng phi thường và tình cảm sâu
nặng với tri kỉ
+ Bốn bể không nhà: khẳng định thực tế gian nan, vất vả, khó khăn của buổi đầu lập nghiệp
+ Lời hẹn”một năm”: mốc thời gain cụ thể, nhanh chóng
→ Lời hẹn ước dứt khoát, ngắn gọn, tự tin
⇒ Từ Hải không chỉ là người anh hùng có khát vọng, có chí lớn mà còn là người rất tự tin vào tài
năng của mình
Thông qua cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải, Nguyễn Du đã thể hiện quan niệm về
người anh hùng là sự thống nhất giữa một con người đời thường giản dị với một đấng trượng
phu đầy quyết tâm hoài bão. Từ Hải không chỉ mang khát vọng lớn lao mà còn rất mực tâm lý,
vừa yêu, hiểu lại trân trọng Thúy Kiều.
*. Hành động ra đi dứt khoát của Từ Hải (2 câu còn lại)
- Hành động: quyết lời, dứt áo ra đi
→ Thái độ, cử chỉ, hành động dứt khoát, không hề do dự, không để tình cảm bịn rịn làm lung lạc
và cản bước ý chí anh hùng
- Hình ảnh chim bằng: hình ảnh tượng trưng cho người anh hùng có lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi
thường, mang tầm vóc vũ trụ
⇒ Hình ảnh người anh hùng Từ Hải thể hiện ước mơ về người anh hùng lí tưởng của Nguyễn Du
* Nghệ thuật:
- Tính chất ước lệ tượng trưng theo lối văn học cổ trung đại, lời thơ sâu sắc.
3. Kết bài:
Đoạn trích Chí khí anh hùng là đoạn trích hay và ý nghĩa. Ca ngợi chí làm trai, chí khí của bậc đại
trượng phu, lí tưởng về người anh hùng mang lại ánh sáng tươi đẹp cho đời và tình cảm sâu sắc của Từ
Hải và Kiều, những ước vọng đẹp cho tương lai.
Đề 2
Em hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề của bài thơ Sở kiến hành (Những điều
trông thấy) của Nguyễn Du?
Sở kiến hành (Những điều trông thấy)
(Nguyễn Du)
Mẹ chết có tiếc gì
Một mẹ cùng ba con,
Thương con càng dứt ruột.
Lê la bên đường nọ
Nỗi đau như xé lòng
Đứa bé ôm trong lòng
Trông mặt trời vàng úa.
Đứa lớn tay mang giỏ.
Gió lạnh bỗng đâu về
Trong giỏ đựng những gì?
Khách qua đường thương xót.
Mớ rau lẫn tấm cám
Đêm qua trạm Tây Hà
Nửa ngày bụng vẫn không
Mâm cỗ sang vô kể
Áo quần thật lam lũ.
Nào vây cá, gân hươu
Gặp người chẳng dám nhìn
Lợn dê mâm đầy ngút
Lệ sa vạt áo ướt
Quan lớn không chọc đũa
Mấy con vẫn cười đùa
Tùy tùng chỉ nếm chút
Biết đâu lòng mẹ xót.
Thức ăn thừa đổ đi
Lòng mẹ xót vì sao?
Chó no ngấy món ngon
Đói kém phải xiêu bạt.
Biết đâu bên đường quan
Nơi đây mùa khá hơn
Có mẹ con cực khổ!
Giá gạo không quá đắt.
Ai vẽ bức tranh này
Quản chi bước lưu li
Dâng lên nhà vua rõ!
Miễn sống qua thì đói
Nhưng một người làm thuê
Nguyễn Hữu Bông dịch (Rút trong tâp Bắc hành
Nuôi bốn miệng sao nổi!
tạp lục)
Lần phố xin miếng ăn
Cách ấy đâu được mãi!
Chết lăn rãnh đến nơi
Thịt da béo cầy sói.
MỞ BÀI sở kiến hành ; đọc hiểu sở kiến hành ; trắc nghiệm sở kiến hành ; sở kiến hành đọc
hiểuến hành trắc nghiệm
– Giới thiệu tác giả và tác phẩm: “Sở kiến hành” là bài thơ bằng chữ Hán được tác giả viết về những
điều mắt thấy tai nghe trong đợt đi sứ sang Trung Quốc. Bài thơ chứa đựng những giá trị tư tưởng sâu
sắc, qua đó cho thấy được tấm lòng nhân đạo cao đẹp của Nguyễn Du.
– Nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá: Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng đi vào phân
tích, đánh giá chủ đề của bài thơ.
THÂN BÀI
1.Khái quát
Bài Những điều trông thấy (Sở kiến hành) rút trong tập thơ Bắc hành tạp lục. Với cảm hứng nhân đạo,
Nguyễn Du đã phản ánh hai cảnh đời trái ngược trong xã hội phong kiến thối nát bất công. Cảnh đời
nào cũng gây cho người đọc nhiều ám ảnh. Bài thơ được viết theo thể "hành", ngũ ngôn trường thiên.
Nhà thơ ghi lại nhiều chi tiết hiện thực cụ thể và nói lên cảm xúc ý nghĩ của mình trước những điều
trông thấy nơi đất khách quê người xa lạ.
2. Xác định chủ đề:
Bài thơ là bức tranh hiện thực của xã hội Trung Quốc: nhân dân đói khổ lầm than trong khi đó bọn
quan lại thì sống xa hoa lãng phí. Qua bài thơ, tác giả thể hiện nỗi lòng đồng cảm đối với nhân dân đói
khổ, lên án bọn quan lại ăn chơi sa đọa, đồng thời thể hiện sự mong ước về một xã hội tốt đẹp hơn.
3. Phân tích, đánh giá chủ đề:
Bài thơ đã vẽ lên trước mắt người đọc hai hình ảnh đối lập:
3.1. Hình ảnh mẹ con người ăn xin:
– Một gia đình đông người, nheo nhóc: một mẹ cùng ba con, có đứa còn bé phải ẵm bồng.
– Họ đang lâm vào cảnh bi đát: rách rưới, đói khát và có nguy cơ chết đói.
– Tình cảnh ấy khiến người mẹ vô cùng đau xót khi nghĩ đến đàn con của mình: Nỗi đau như xé lòng/
Trời xanh có thấu nổi => Câu thơ vừa là tiếng kêu đứt ruột, vừa là nỗi oán hận với số kiếp, với cuộc
đời, cũng là một cách gián tiếp bộc lộ nỗi oán trách đối với chế độ.
3.2. Hình ảnh quan lại:
Tong khi ba mẹ con người ăn xin đang lâm vào cảnh đói rách, cận kề bên cái chết thì cuộc sống của
bọn quan lại lại thật thừa mứa, xa hoa, lãng phí:
– Tác giả miêu tả kĩ hình ảnh mâm cỗ: Vây cá hầm gân hươu/ Lợn dê mâm đầy ngút. Một mâm cỗ quá
sang trọng với đầy những sơn hào hải vị, đối lập hoàn toàn với những thức ăn của mẹ con người ăn
mày: Mớ rau lẫn tấm cám.
– Mâm cỗ ngon lành ấy lại bị các quan lại thờ ơ: Quan lớn không gắp qua/ Các thầy chỉ nếm chút.
Cuộc sống của họ quá no đủ, quá dư thừa, nên họ không còn thiết đến những món ăn ấy nữa. Thế
nhưng vì tiếp đãi các quan, vì yến tiệc, người ta vẫn phải dọn lên.
– Nhức nhối nhất là hình ảnh những thức ăn ngon lành ấy bị đổ đi, làm thức ăn cho đàn chó. Hình ảnh
đàn chó thì no bụng với những sơn hào hải vị, trong khi đó có những con người thì lại đang đói khát,
sắp chết đói đến nơi vừa gợi sự đau xót, vừa khiến người đọc oán giận vô cùng.
3.3. Thái độ của tác giả:
– Bằng việc vẽ lên hai hình ảnh cuộc sống đối lập nhau, Nguyễn Du đã bày tỏ thái độ thương cảm, đau
xót đối với ba mẹ con người ăn xin nói riêng và những kiếp người cơ cực nói chung; đồng thời tỏ thái
độ phê phán, phẫn nộ trước sự vô cảm, tàn nhẫn, xa hoa lãng phí của giai cấp thống trị.
– Qua bài thơ, ta thấy được tấm lòng nhân đạo rộng lớn của Nguyễn Du: ông không chỉ nói về một xã
hội cụ thể với những con người cụ thể, mà đó là tấm lòng đối với con người, đối với mọi xã hội nói
chung. Ông luôn ước mơ một xã hội tốt đẹp, công bằng, ở đó mọi người đều được no ấm, hạnh phúc.
KẾT BÀI
– Khẳng định khái quát những nét đặc sắc về chủ đề của bài thơ: Bài thơ vừa mang giá trị hiện thực,
vừa mang giá trị nhân đạo sâu sắc.
– Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân hoặc cảm nghĩ sau khi đọc, thưởng thức bài thơ: Bài thơ
không chỉ cho ta hiểu hơn về xã hội phong kiến Trung Quốc đương thời, mà còn giúp ta thấy được tấm
lòng nhân ái bao la của Nguyễn Du, con người có “con mắt nhìn thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt ngàn
năm”.
Đề 3
Suy nghĩ của em về vẻ đẹp của bức tranh thiếu nữ bên hoa huệ của họa sĩ Tô Ngọc Vân
1. MB
Khi nói về những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất Việt Nam thế kỉ XX, không thể không nhắc đến
“Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Đã 80 năm kể từ khi tác phẩm ra đời nhưng đây vẫn
được coi là kiệt tác nghệ thuật, mang đến hơi thở mới cho nền mỹ thuật nước nhà.
2. TB
a. Khái quát về tác giả và hoàn cảnh ra đời của bức tranh
Họa sĩ Tô Ngọc Vân sinh ra và lớn lên tại thành phố Hà Nội. Xuất thân từ một gia đình nghèo khó, Tô
Ngọc Vân phải nỗ lực rất nhiều để phát triển niềm đam mê hội họa. Tô Ngọc Vân khao khát mang vẻ
đẹp đa dạng của đất nước, con người Việt Nam vào trong những bức tranh, Họa sĩ mơ ước “xây dựng
một nền hội họa Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để
giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới”.
“Thiếu nữ bên hoa huệ” được Tô Ngọc Vân vẽ vào năm 1943 khi ông đang làm công tác giảng dạy tại
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Nguyên mẫu của cô gái trong bức tranh là cô Sáu – một
người mẫu từng xuất hiện trong tranh của nhiều họa sĩ nổi tiếng thời bấy giờ như Nguyễn Gia Trí, Trần
Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị,…
b. Suy nghĩ của em về vẻ đẹp của bức tranh thiếu nữ bên hoa huệ của họa sĩ Tô Ngọc Vân
- Bức tranh miêu tả hình ảnh một thiếu nữ mặc tà áo dài trắng, nghiêng đầu về phía lọ hoa huệ tây.
Theo quan niệm của Cơ đốc giáo, hoa huệ là biểu tượng cho sự trong trắng, đức hạnh, thanh cao. Sự nở
rộ của những bông hoa, vẻ duyên dáng của người thiếu nữ kết hợp một cách hài hòa, tạo nên hơi thở
vừa truyền thống lại vừa tân thời. Gò má người con gái phảng phất sắc hồng, đôi mắt sâu thăm thẳm
như chứa đựng nỗi suy tư, trầm buồn. Tác phẩm có bố cục chặt chẽ. Hình ảnh cô gái kề sát đầu bên
hoa, một tay nâng bông hoa, một tay khẽ chạm vào mái tóc tạo nên sự liên kết giữa các đối tượng trong
tranh. Ngoài sắc trắng chủ đạo, Tô Ngọc Vân còn sử dụng những màu sắc trang nhã như xanh dương,
vàng, xanh lá. Có thể thấy từ chất liệu, đường nét, màu sắc đến bố cục của tranh đều vô cùng hoàn hảo.
Không chỉ hấp dẫn về hình thức biểu hiện, “Thiếu nữ bên hoa huệ” còn chứa đựng giá trị tinh thần quý
báu. Tác phẩm đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp đài các, nền nã của người phụ nữ Việt Nam trong tà áo dài
truyền thống để từ đó, ngợi ca con người và đất nước Việt Nam.
- Sức hấp dẫn của bức tranh là điều không phải bàn cãi. Từ khi ra mắt, “Thiếu nữ bên hoa huệ” đã
được khán giả trong và ngoài nước yêu thích. Có nhiều người ngỏ lời mua tranh nhưng tác giả không
bán. Về sau, số phận của bức tranh cũng trở nên vô cùng lận đận. Ban đầu, bức tranh được treo tại nhà
riêng của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Do chiến tranh, cả gia đình tác giả phải đi tản cư. Đến khi hòa bình lập
lại, bức tranh đã trở thành vật sở hữu của một người khác. Sau đó, tác phẩm lại nhiều lần đổi chủ. Hiện
nay, đa số những “Thiếu nữ bên hoa huệ” mà công chúng có dịp chiêm ngưỡng đều chỉ là tranh chép.
Đây quả thực là một điều đáng tiếc cho một tác phẩm nghệ thuật có một không hai của nước nhà.
3.KB
“Thiếu nữ bên hoa huệ” là sự kết hợp tinh tế giữa cốt cách Á Đông với sự tân kì của mỹ thuật phương
Tây. Sức sống của tác phẩm quả thực đã vượt ra khỏi chiếc khung kính trang nghiêm để đến với lớp
lớp thế hệ con người yêu hội họa.
Bài văn mẫu đề số 2
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
(Kiều - Nguyễn Du)
Đấy là tuyên ngôn về phương pháp sáng tác của Nguyễn Du. “Những điều trông thấy” là tất cả sức
mạnh của thi phẩm Nguyễn Du. Vi con mắt nhìn thấu cả sáu cõi của thi nhân cũng là tấm lòng yêu
thương mênh mông của thi nhân đôi với con người, với nhân loại. Trong chuyến đi sứ Trung Quốc,
Nguyễn Du đã nhìn thấy nhiều điều đau lòng, nhà thơ đã ghi lại trong bài “Sở kiến hành” (bài hành
những điều trông thấy), không hoa mĩ mà kinh động lòng người.
Bài Những điều trông thấy (Sở kiến hành) rút trong tập thơ Bắc hành tạp lục (lục gồm những bài thơ
được sáng tác trong thời gian Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc (năm 1813). Với cảm hứng nhân đạo,
Nguyễn Du đã phản ánh hai cảnh đời trái ngược trong xã hội phong kiến thối nát bất công. Cảnh đời
nào cũng gây cho người đọc nhiều ám ảnh. Bài thơ được viết theo thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
Nhà thơ ghi lại nhiều chi tiết hiện thực cụ thể và nói lên cảm xúc ý nghĩ của mình trước những điều
trông thấy nơi đất khách quê người xa lạ.
Cảnh đời thứ nhất là cảnh đời bốn mẹ con người ăn mày: “Một mẹ cùng ba con – Lê la bên đường nọ”.
Hành trang là một chiếc giỏ đựng “mớ rau lẫn tấm cám”. Người mẹ bế con thơ; đoàn hành khất nhếch
nhác, tiều tụy. Bụng đói, áo quần rách rưới đáng thương:
"Nửa ngày bụng vẫn không
Áo quần thật lam lũ."
Vì “đói kém phải xiêu bạt”, người mẹ càng thương đàn con thơ. Vừa tủi thân vừa đau khổ. Bao nhiêu
nước mắt đã chảy: “Gặp người chẳng dám nhìn – Lệ sa vạt áo ướt”. Nhà thơ thương xót trước một
cảnh đời nhiều cay đắng, bất hạnh, tự hỏi, người mẹ kia “nuôi bốn miệng sao nổi!”. Sự trống vắng hình
ảnh người chồng, người cha trong đoàn ăn mày gây cho chúng ta nhiều thương cảm. Người chồng,
người cha đã chết đói, đi lính thú biên ải xa xôi? Hay đã giãi thây trên chiến địa? Một vệt đen đầy ám
ảnh phủ lên bức tranh bốn mẹ con người ăn mày.
Nguyễn Du không chỉ tả, chỉ ghi lại những điều trông thấy, mà còn nói lên cảm nghĩ đầy trắc ẩn của
lòng mình. Ông lo lắng, đau xót cho tính mệnh người mẹ và lũ con thơ đau khổ, đói rét. Trước mắt
đáng thương là vực thẳm. Không chết đói thì cũng sẽ làm mồi cho thú dữ:
"Chết lăn rãnh đến noi
Thịt da béo cầy sói."
Trước đau thương của người đời, đất trời cũng tê tái. Gió lạnh càng thêm lạnh. Mặt trời vàng úa lại.
Người đi sứ, khách qua đường, rầu rĩ xót thương, cả một không gian đầy lệ. Nỗi đau đớn của người mẹ
“như xé lòng”. Nguyễn Du mượn ngoại cảnh (gió, mặt trời) để tô đậm nỗi đau của nhân gian. Đó là nét
vẽ thần tình nhất, tạo nên giá trị tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo của bức tranh bốn mẹ con
người ăn mày:
"... Nỗi đau như xé lòng
Trông mặt trời vàng úa.
Gió lạnh bỗng đâu về
Khách qua đường thương xót."
Nguyễn Du với cảm hứng nhân đạo, ông luôn luôn hướng về những con người đau khổ trong cuộc đời,
nhất là những phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh như Đạm Tiên. Thúy Kiểu, người kĩ nữ gảy đàn ở Long
Thành, v.v… Đây là lần thứ hai ông viết về người ăn mày đau khổ. Trong “Văn chiêu hồn” ông từng
viết:
"Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi.
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan."
Phần tiếp theo, Nguyễn Du nói về cảnh đời của bọn quan lại qua bữa tiệc trạm Tây Hà – bữa tiệc đón
tiếp sứ thần nước Nam. Nguyễn Du là chánh sứ. Vì thế những điều ông tả trong bữa tiệc là “những
điều trông thấy” rất chân thực. Có bao thứ cao lương mĩ vị: “Nào vây cá, gân hươu – Lợn dê mâm đầy
ngút”. Một nét vẽ tương phản có giá trị tố cáo sâu sắc những bất công trong xã hội. Trong lúc bốn me
con người ăn mày “nửa ngày bụng vẫn không”, cầm hơi bằng rau, cám thì bọn quan trên sống xa hoa,
thừa mứa:
"Quan lớn không chọc đũa
Tùy tùng chỉ nếm chút
Thức ăn thừa đổ đi
Chó no ngấy món ngon."
Có lần bình luận tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, nhà văn Nguyễn Tuân có nói Ngô Tất Tô' đưa
chó vào tác phẩm đế lộ bản chất chó của vợ chồng Nghị Quế. Vậy thì, phải chăng hơn hai trăm năm
trước, Nguyễn Du đưa chó vào thơ đế lộ bản chất chó của bọn quan lại đương thời? Nghịch lí cuộc đời
càng trở nên vô cùng xót xa. Câu thơ cảm thán diễn tả nỗi đau đời – nỗi đau như vò xé tâm hồn nhà
thơ. Đó là “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”:
"Biết đâu bên đường quan
Có mẹ con cực khổ!"
Trước hai cảnh đời trái ngược như vậy, hai câu thơ cuối như một câu hỏi vô tình nhưng hàm ẩn một ý
nghĩa phê phán sâu sắc:
"Ai vẽ bức tranh này
Dâng lên nhà vua rõ!"
Nguyễn Du đã vận dụng sáng tạo một điển tích Trung Hoa. Theo Tống sử, dưới chính quyển nhà Tống,
khi Vương An Thạch làm tể tướng, hạn hán mất mùa, dân tình đói rét. Họ phải dỡ nhà bán. Ăn mày
kéo đi đầy đường. Trịnh Hiệp làm chức giám môn (gác cổng thành) bèn vẽ một bức tranh ghi lại cảnh
ấy, tìm cách dâng lên vua nhà Tống… Cái hay của điển tích là làm cho văn chương hàm súc, kín đáo,
gây hứng thú thẩm mĩ và trí tuệ. Thật ra, Nguyễn Du đã “vẽ bức tranh này” với hai cảnh đời bằng tấm
lòng nhân đạo cao cả. Bài thơ tuy nói vể “những điều trông thấv trên đất nước Trung Hoa, nhưng lại
mang tính ám chỉ rất rõ. Xã hội phong kiến Trung Quốc cũng như xã hội Việt Nam dưới thời nhà
Nguyễn đầy rẫy thối nát. bất công. Bọn vua chúa, quan lại sống xa hoa, hưởng lạc trên nước mắt, mồ
hôi nhân dân. Hàng triệu dân đen bị xô đẩy vào cảnh bần hàn đau khổ.
“Ai vẽ bức tranh này – Dâng lên nhà vua rõ” – Nguyễn Du đã mượn điển cố để hỏi thế thôi, nhưng ông
đã vẽ bức tranh ấy với hai cảnh đời ngang trái “kẻ ăn không hết người lần không ra” – một bức tranh
bằng ngôn ngữ thi ca. Bức tranh hiện thực sống động có ý nghĩa phê phán bọn vua quan vô trách
nhiệm trưóc nỗi thống khổ của nhân dân. Nhà thơ đã nói lên một sự thật đau lòng về quyền sống và
hạnh phúc của những con người nhỏ bé dưới đáy xã hội. Ngòi bút tả thực trong miêu tả, tự sự kết hợp
với biểu lộ cảm xúc trực tiếp, sâu sắc trong vận dụng điển tích văn học đã tạo nên giá trị nhân bản của
áng thơ này. Có thể nói, Nguyễn Du là nhà thơ cổ điển Việt Nam viết về nỗi đau khổ của nhân dân một
cách sâu sắc nhất, cảm động nhất.
Tác phẩm “Sở kiến hành” chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du. Tác
phẩm đã biểu hiện một cách sâu sắc tinh thần nhân đạo cao quý của đại thi hào. Tấm lòng của nhà thơ
đã hướng về những người nghèo khổ bất hạnh, bất kể đó là người Việt Nam hay người Trung Quốc.
Tình cảm thương yêu của ông đã vươn đến tầm nhân loại. Sức mạnh của phương pháp sáng tác của
Nguyễn Du là ở những điều trông thấy. Trong “Sở kiến hành” có tiểu xảo gì đâu, cũng không hoa mĩ
vậy mà bài hành đã làm kinh động lòng người. Thế mới biết, trong đời sống, cũng như trong nghệ
thuật, tấm lòng mới tạo ra điều kì diệu. Đúng như thi hào Nguyễn Du đã nói: “Chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài” (Truyện Kiều).
* Củng cố, dặn dò:
- Hoàn thiện bài viết
- Chuẩn bị ôn tập về truyện
Ngày
tháng 10 năm 2023
TPCM kí duyệt
Trần Thị Thanh Bình
Lớp
Ngày giảng
Sĩ số
Tiết 22,23,24:
VIẾT BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT
I. MỤC TIÊU BÀI DẠY
1. Kiến thức
- Nhận biết và biết cách viết bài nghị luận một tác phẩm nghệ thuật tự chọn (điện ảnh, sân khấu, âm
nhạc, hội họa…)
2. Năng lực
* Năng lực chung:
- Biết thuyết trình về một vấn đề, có sử dụng kết hợp phương tiện ngôn ngữ với các phương tiện giao
tiếp phi ngôn ngữ.
- Nghe và nắm bắt được nội dung truyết trình, quan điểm của người nói về một vấn đề;
- Nhận xét về nội dung và hình thức thuyết trình; đưa ra được những căn cứ thuyết phục để bảo vệ hay
bác bỏ một ý kiến nào đó về một vấn đề trên tinh thần tôn trọng người đối thoại.
- Năng lực sáng tạo: Biết thu thập và làm rõ các thông tin liên quan đến vấn đề, biết đề xuất và phân
tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề; thiết kế hoạt động và tư duy độc lập.
- Năng lực hợp tác, năng lực tự chủ và tự học.
* Năng lực đặc thù
- Năng lực ngôn ngữ Tiếng Việt: Nhận biết và biết cách viết bài nghị luận một tác phẩm nghệ thuật tự
chọn (điện ảnh, sân khấu, âm nhạc, hội họa…)
3. Phẩm chất
- Bài học góp phần phát triển phẩm chất trách nhiệm: HS tích cực, chủ động trong học tập để vận dụng
kiến thức vào cuộc sống.
- Bài học góp phần hình thành tính cách tự tin khi trình bày kiến thức về văn học
- Hình thành nhân cách bồi dưỡng tình cảm: tình yêu với môn Văn
II. THIẾT BỊ DẠY HỌC VÀ HỌC LIỆU
- Bài giảng PP,
- Máy chiếu, SGK, SGV Ngữ văn, tài liệu tham khảo,
- Phiếu học tập,
- Phiếu đánh giá, biên bản làm việc nhóm.
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
I.
Kiến thức chung
1. Khái niệm
Nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật có thể là bài luận bàn về một tác phẩm văn học (toàn bộ hoặc
đoạn trích) hoặc một bài nghị luận phân tích cái hay, cái đẹp của một vở kịch, bộ phim, bài hát, bức
tranh, pho tượng,…Bài nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật thường nêu lên nội dung và một số nét
hình thức đặc sắc của tác phẩm nghệ thuật. Từ đó, người viết nhận xét, đánh giá về tác phẩm ấy.
2. Để viết bài nghị luận phân tích tác phẩm nghệ thuật, cần chú ý:
- Tìm hiểu kĩ về tác phẩm nghệ thuật được phân tích.
- Nắm được những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm thông qua một số chi tiết cụ
thể.
- Nêu được nhận xét cá nhân về ưu điểm và hạn chế của tác phẩm được phân tích.
- Tìm ý và lập dàn ý cho bài viết.
3.Dàn ý
- Lập dàn ý cho bài viết bằng cách lựa chọn, sắp xếp các ý theo bố cục ba phần:
Mở bài
Giới thiệu bộ phim (vở kịch, bài hát) và nêu khái quát điểm đặc sắc.
Thân bài
Nêu các ý cụ thể phân tích bộ phim (vở kịch, bài hát):
+ Phân tích nội dung, ý nghĩa của bộ phim (vở kịch, bài hát).
+ Phân tích các điểm đặc sắc về hình thức bộ phim (vở kịch, bài hát).
+ Nêu các nhận xét của người viết về thành công và hạn chế của bộ phim (vở kịch, bài hát).
Kết bài
Nêu đánh giá khái quát về bộ phim (vở kịch, bài hát): giá trị thời sự, hiệu quả tác động tới người xem,
dư luận xã hội về bộ phim (vở kịch, bài hát) đó.
II.
Luyện đề
Đề 1. Phân tích đoạn trích Chí khí anh hùng – Trích Truyện Kiều của Nguyễn Du
Nửa năm hương lửa đương nồng,
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
Trông vời trời bể mênh mang,
Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rong.
Nàng rằng: “Phận gái chữ tòng
Chàng đi thiếp cũng một lòng xin đi”.
Từ rằng: “Tâm phúc tương tri,
Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?
Bao giờ mười vạn tinh binh,
Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường.
Làm cho rõ mặt phi thường,
Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
Bằng nay bốn bể không nhà,
Theo càng thêm bận biết là đi đâu?
Đành lòng chờ đó ít lâu,
Chầy chăng là một năm sau vội gì!”
Quyết lời dứt áo ra đi,
Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.
1. Mở bài:
- Tác giả: Đại thi hào Nguyễn Du, là danh nhân văn hóa Việt Nam.
- Tác phẩm: Trích truyện Kiều nói lên tính cách và chí khí anh hùng của Từ Hải.
MB mẫu:
Tố Hữu đã từng dành những lời ngợi ca sâu sắc nhất cho một nhà đại thi sĩ rằng:
“Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu”
Người đó không ai khác chính là Nguyễn Du cùng với kiệt tác Truyện Kiều. Mỗi một đoạn, mỗi câu
thơ trong Truyện Kiều đều là “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” mà thi gia dầy công chắp bút. Ở
đó, ẩn sau số phận cuộc đời mỗi nhân vật đã được nhà đại thi hào của dân tộc chúng ta gửi gắm biết
bao giá trị nhân đạo, nhân văn sâu sắc. Và trong số những trích đoạn của “Truyện Kiều”, đoạn trích
“Chí khí anh hùng” chính là một trong những minh chứng tiêu biểu nhất với sự phản ánh chân thực
giấc mơ tự do công lí , khát vọng làm nên sự nghiệp lớn của người anh hùng…
2. Thân bài:
a. Khái quát
- Đoạn trích “Chí khí anh hùng” thuộc phần Gia biến và lưu lạc (từ câu 2213 đến câu 2230).
- Nội dung chính: Cuộc đời Kiều tưởng chừng như sẽ rơi vào bế tắc khi lần thứ hai rơi vào lầu xanh.
Thì bỗng nhiên Từ Hải xuất hiện và cứu nàng thoát khỏi cảnh ô nhục. Từ Hải đã cho Kiều một danh
phận cũng như giúp nàng báo ân, báo oán. Nửa năm trôi qua, cuộc sống của hai người đương hạnh
phúc. Từ Hải không bằng lòng với cuộc sống êm đềm mà muốn có sự nghiệp lớn nên đã từ biệt Kiều ra
đi để gây dựng sự nghiệp.
b. Phân tích
*. Khát vọng lên đường của Từ Hải (4 câu đầu)
- Hoàn cảnh chia tay: Thúy Kiều và Từ Hải đang có cuộc sống hạnh phúc “hương lửa đương nồng”
(cuộc sống vợ chồng đằm thắm mặn nồng)
- Hình ảnh Từ Hải:
+ Trượng phu: chỉ người đàn ông có chí khí, bậc anh hùng
→ Thái độ trân trọng, kính phục của Nguyễn Du đối với Từ Hải
+ Thoắt: dứt khoát, mau lẹ, nhanh chóng
+ Động lòng bốn phương: trong lòng nao nức chí tung hoành bốn phương
+ Ánh mắt trông vào “trời bể mênh mang” là ánh nhìn hướng đến một khoảng không gian xa hơn rộng
hơn nơi mà bậc hào kiệt thỏa chí vẫy vùng với những đam mê, lí tưởng.
+ Lên đường thẳng rong: đi liền một mạch → Một tư thế đẹp, hiên ngang, không vướng bận của
người quân tử sẵn sàng lên đường
-> Từ Hải đã thoát khỏi tình cảm cá nhân nhanh chóng đi làm việc lớn của cuộc đời.
⇒ Bốn câu thơ đầu thể hiện một khát vọng thực hiện chí lớn của chàng anh hùng họ Từ. Khát vọng
ấy không những được đặt trong một bối cảnh đặc biệt để thấy một Từ Hải không quyến luyến, bịn rịn,
không vì tình yêu mà quên đi lí tưởng cao cả; mà còn được đặt trong một không gian vũ trụ rộng lớn
để tôn lên tầm vóc người anh hùng.
*. Cuộc đối thoại giữa Từ Hải và Thúy Kiều (12 câu tiếp theo)
Lời của Thúy Kiều
- Xưng hô: chàng – thiếp
→ Tình cảm vợ chồng mặn nồng, thắm thiết
- Phận gái chữ tòng: bổn phận của người vợ phải theo chồng
- Một lòng xin đi: quyết tâm theo Từ Hải
⇒ Thúy Kiều không chỉ ý thức được bổn phận người vợ, thể hiện tình yêu với chồng mà còn hiểu,
khâm phục và kính trọng Từ Hải. Nàng xứng đáng là tri kỉ của bậc anh hùng
Lời của Từ Hải
- Lời đáp của Từ Hải:
+ Từ chối mong muốn của Thúy Kiều:
+ Khuyên Kiều hãy vượt lên tình cảm thông thường để xứng đáng làm vợ anh hùng
+ Coi Kiều là tri kỉ, là người hiểu mình
→ Tính cách anh hùng của Từ Hải
- Lời hứa của Từ Hải:
+ Rõ mặt phi thường: tạo nên sự nghiệp xuất chúng, phi thường. Đó chính là niềm tin vào bản thân,
vào sự nghiệp của mình
+ Rước nàng nghi gia.: hứa đón Kiều trở về
→ Người anh hùng có chí khí, có sự thống nhất giữa lí trí, khát vọng phi thường và tình cảm sâu
nặng với tri kỉ
+ Bốn bể không nhà: khẳng định thực tế gian nan, vất vả, khó khăn của buổi đầu lập nghiệp
+ Lời hẹn”một năm”: mốc thời gain cụ thể, nhanh chóng
→ Lời hẹn ước dứt khoát, ngắn gọn, tự tin
⇒ Từ Hải không chỉ là người anh hùng có khát vọng, có chí lớn mà còn là người rất tự tin vào tài
năng của mình
Thông qua cuộc đối thoại giữa Thúy Kiều và Từ Hải, Nguyễn Du đã thể hiện quan niệm về
người anh hùng là sự thống nhất giữa một con người đời thường giản dị với một đấng trượng
phu đầy quyết tâm hoài bão. Từ Hải không chỉ mang khát vọng lớn lao mà còn rất mực tâm lý,
vừa yêu, hiểu lại trân trọng Thúy Kiều.
*. Hành động ra đi dứt khoát của Từ Hải (2 câu còn lại)
- Hành động: quyết lời, dứt áo ra đi
→ Thái độ, cử chỉ, hành động dứt khoát, không hề do dự, không để tình cảm bịn rịn làm lung lạc
và cản bước ý chí anh hùng
- Hình ảnh chim bằng: hình ảnh tượng trưng cho người anh hùng có lí tưởng cao đẹp, hùng tráng, phi
thường, mang tầm vóc vũ trụ
⇒ Hình ảnh người anh hùng Từ Hải thể hiện ước mơ về người anh hùng lí tưởng của Nguyễn Du
* Nghệ thuật:
- Tính chất ước lệ tượng trưng theo lối văn học cổ trung đại, lời thơ sâu sắc.
3. Kết bài:
Đoạn trích Chí khí anh hùng là đoạn trích hay và ý nghĩa. Ca ngợi chí làm trai, chí khí của bậc đại
trượng phu, lí tưởng về người anh hùng mang lại ánh sáng tươi đẹp cho đời và tình cảm sâu sắc của Từ
Hải và Kiều, những ước vọng đẹp cho tương lai.
Đề 2
Em hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề của bài thơ Sở kiến hành (Những điều
trông thấy) của Nguyễn Du?
Sở kiến hành (Những điều trông thấy)
(Nguyễn Du)
Mẹ chết có tiếc gì
Một mẹ cùng ba con,
Thương con càng dứt ruột.
Lê la bên đường nọ
Nỗi đau như xé lòng
Đứa bé ôm trong lòng
Trông mặt trời vàng úa.
Đứa lớn tay mang giỏ.
Gió lạnh bỗng đâu về
Trong giỏ đựng những gì?
Khách qua đường thương xót.
Mớ rau lẫn tấm cám
Đêm qua trạm Tây Hà
Nửa ngày bụng vẫn không
Mâm cỗ sang vô kể
Áo quần thật lam lũ.
Nào vây cá, gân hươu
Gặp người chẳng dám nhìn
Lợn dê mâm đầy ngút
Lệ sa vạt áo ướt
Quan lớn không chọc đũa
Mấy con vẫn cười đùa
Tùy tùng chỉ nếm chút
Biết đâu lòng mẹ xót.
Thức ăn thừa đổ đi
Lòng mẹ xót vì sao?
Chó no ngấy món ngon
Đói kém phải xiêu bạt.
Biết đâu bên đường quan
Nơi đây mùa khá hơn
Có mẹ con cực khổ!
Giá gạo không quá đắt.
Ai vẽ bức tranh này
Quản chi bước lưu li
Dâng lên nhà vua rõ!
Miễn sống qua thì đói
Nhưng một người làm thuê
Nguyễn Hữu Bông dịch (Rút trong tâp Bắc hành
Nuôi bốn miệng sao nổi!
tạp lục)
Lần phố xin miếng ăn
Cách ấy đâu được mãi!
Chết lăn rãnh đến nơi
Thịt da béo cầy sói.
MỞ BÀI sở kiến hành ; đọc hiểu sở kiến hành ; trắc nghiệm sở kiến hành ; sở kiến hành đọc
hiểuến hành trắc nghiệm
– Giới thiệu tác giả và tác phẩm: “Sở kiến hành” là bài thơ bằng chữ Hán được tác giả viết về những
điều mắt thấy tai nghe trong đợt đi sứ sang Trung Quốc. Bài thơ chứa đựng những giá trị tư tưởng sâu
sắc, qua đó cho thấy được tấm lòng nhân đạo cao đẹp của Nguyễn Du.
– Nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá: Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng đi vào phân
tích, đánh giá chủ đề của bài thơ.
THÂN BÀI
1.Khái quát
Bài Những điều trông thấy (Sở kiến hành) rút trong tập thơ Bắc hành tạp lục. Với cảm hứng nhân đạo,
Nguyễn Du đã phản ánh hai cảnh đời trái ngược trong xã hội phong kiến thối nát bất công. Cảnh đời
nào cũng gây cho người đọc nhiều ám ảnh. Bài thơ được viết theo thể "hành", ngũ ngôn trường thiên.
Nhà thơ ghi lại nhiều chi tiết hiện thực cụ thể và nói lên cảm xúc ý nghĩ của mình trước những điều
trông thấy nơi đất khách quê người xa lạ.
2. Xác định chủ đề:
Bài thơ là bức tranh hiện thực của xã hội Trung Quốc: nhân dân đói khổ lầm than trong khi đó bọn
quan lại thì sống xa hoa lãng phí. Qua bài thơ, tác giả thể hiện nỗi lòng đồng cảm đối với nhân dân đói
khổ, lên án bọn quan lại ăn chơi sa đọa, đồng thời thể hiện sự mong ước về một xã hội tốt đẹp hơn.
3. Phân tích, đánh giá chủ đề:
Bài thơ đã vẽ lên trước mắt người đọc hai hình ảnh đối lập:
3.1. Hình ảnh mẹ con người ăn xin:
– Một gia đình đông người, nheo nhóc: một mẹ cùng ba con, có đứa còn bé phải ẵm bồng.
– Họ đang lâm vào cảnh bi đát: rách rưới, đói khát và có nguy cơ chết đói.
– Tình cảnh ấy khiến người mẹ vô cùng đau xót khi nghĩ đến đàn con của mình: Nỗi đau như xé lòng/
Trời xanh có thấu nổi => Câu thơ vừa là tiếng kêu đứt ruột, vừa là nỗi oán hận với số kiếp, với cuộc
đời, cũng là một cách gián tiếp bộc lộ nỗi oán trách đối với chế độ.
3.2. Hình ảnh quan lại:
Tong khi ba mẹ con người ăn xin đang lâm vào cảnh đói rách, cận kề bên cái chết thì cuộc sống của
bọn quan lại lại thật thừa mứa, xa hoa, lãng phí:
– Tác giả miêu tả kĩ hình ảnh mâm cỗ: Vây cá hầm gân hươu/ Lợn dê mâm đầy ngút. Một mâm cỗ quá
sang trọng với đầy những sơn hào hải vị, đối lập hoàn toàn với những thức ăn của mẹ con người ăn
mày: Mớ rau lẫn tấm cám.
– Mâm cỗ ngon lành ấy lại bị các quan lại thờ ơ: Quan lớn không gắp qua/ Các thầy chỉ nếm chút.
Cuộc sống của họ quá no đủ, quá dư thừa, nên họ không còn thiết đến những món ăn ấy nữa. Thế
nhưng vì tiếp đãi các quan, vì yến tiệc, người ta vẫn phải dọn lên.
– Nhức nhối nhất là hình ảnh những thức ăn ngon lành ấy bị đổ đi, làm thức ăn cho đàn chó. Hình ảnh
đàn chó thì no bụng với những sơn hào hải vị, trong khi đó có những con người thì lại đang đói khát,
sắp chết đói đến nơi vừa gợi sự đau xót, vừa khiến người đọc oán giận vô cùng.
3.3. Thái độ của tác giả:
– Bằng việc vẽ lên hai hình ảnh cuộc sống đối lập nhau, Nguyễn Du đã bày tỏ thái độ thương cảm, đau
xót đối với ba mẹ con người ăn xin nói riêng và những kiếp người cơ cực nói chung; đồng thời tỏ thái
độ phê phán, phẫn nộ trước sự vô cảm, tàn nhẫn, xa hoa lãng phí của giai cấp thống trị.
– Qua bài thơ, ta thấy được tấm lòng nhân đạo rộng lớn của Nguyễn Du: ông không chỉ nói về một xã
hội cụ thể với những con người cụ thể, mà đó là tấm lòng đối với con người, đối với mọi xã hội nói
chung. Ông luôn ước mơ một xã hội tốt đẹp, công bằng, ở đó mọi người đều được no ấm, hạnh phúc.
KẾT BÀI
– Khẳng định khái quát những nét đặc sắc về chủ đề của bài thơ: Bài thơ vừa mang giá trị hiện thực,
vừa mang giá trị nhân đạo sâu sắc.
– Nêu tác động của tác phẩm đối với bản thân hoặc cảm nghĩ sau khi đọc, thưởng thức bài thơ: Bài thơ
không chỉ cho ta hiểu hơn về xã hội phong kiến Trung Quốc đương thời, mà còn giúp ta thấy được tấm
lòng nhân ái bao la của Nguyễn Du, con người có “con mắt nhìn thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt ngàn
năm”.
Đề 3
Suy nghĩ của em về vẻ đẹp của bức tranh thiếu nữ bên hoa huệ của họa sĩ Tô Ngọc Vân
1. MB
Khi nói về những tác phẩm hội họa nổi tiếng nhất Việt Nam thế kỉ XX, không thể không nhắc đến
“Thiếu nữ bên hoa huệ” của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Đã 80 năm kể từ khi tác phẩm ra đời nhưng đây vẫn
được coi là kiệt tác nghệ thuật, mang đến hơi thở mới cho nền mỹ thuật nước nhà.
2. TB
a. Khái quát về tác giả và hoàn cảnh ra đời của bức tranh
Họa sĩ Tô Ngọc Vân sinh ra và lớn lên tại thành phố Hà Nội. Xuất thân từ một gia đình nghèo khó, Tô
Ngọc Vân phải nỗ lực rất nhiều để phát triển niềm đam mê hội họa. Tô Ngọc Vân khao khát mang vẻ
đẹp đa dạng của đất nước, con người Việt Nam vào trong những bức tranh, Họa sĩ mơ ước “xây dựng
một nền hội họa Việt Nam có tính chất dân tộc, phản ứng lại sự lan tràn của hội họa Pháp sang ta và để
giành một địa vị mỹ thuật trọng yếu cho dân tộc trên thế giới”.
“Thiếu nữ bên hoa huệ” được Tô Ngọc Vân vẽ vào năm 1943 khi ông đang làm công tác giảng dạy tại
Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Nguyên mẫu của cô gái trong bức tranh là cô Sáu – một
người mẫu từng xuất hiện trong tranh của nhiều họa sĩ nổi tiếng thời bấy giờ như Nguyễn Gia Trí, Trần
Văn Cẩn, Lương Xuân Nhị,…
b. Suy nghĩ của em về vẻ đẹp của bức tranh thiếu nữ bên hoa huệ của họa sĩ Tô Ngọc Vân
- Bức tranh miêu tả hình ảnh một thiếu nữ mặc tà áo dài trắng, nghiêng đầu về phía lọ hoa huệ tây.
Theo quan niệm của Cơ đốc giáo, hoa huệ là biểu tượng cho sự trong trắng, đức hạnh, thanh cao. Sự nở
rộ của những bông hoa, vẻ duyên dáng của người thiếu nữ kết hợp một cách hài hòa, tạo nên hơi thở
vừa truyền thống lại vừa tân thời. Gò má người con gái phảng phất sắc hồng, đôi mắt sâu thăm thẳm
như chứa đựng nỗi suy tư, trầm buồn. Tác phẩm có bố cục chặt chẽ. Hình ảnh cô gái kề sát đầu bên
hoa, một tay nâng bông hoa, một tay khẽ chạm vào mái tóc tạo nên sự liên kết giữa các đối tượng trong
tranh. Ngoài sắc trắng chủ đạo, Tô Ngọc Vân còn sử dụng những màu sắc trang nhã như xanh dương,
vàng, xanh lá. Có thể thấy từ chất liệu, đường nét, màu sắc đến bố cục của tranh đều vô cùng hoàn hảo.
Không chỉ hấp dẫn về hình thức biểu hiện, “Thiếu nữ bên hoa huệ” còn chứa đựng giá trị tinh thần quý
báu. Tác phẩm đã góp phần tôn vinh vẻ đẹp đài các, nền nã của người phụ nữ Việt Nam trong tà áo dài
truyền thống để từ đó, ngợi ca con người và đất nước Việt Nam.
- Sức hấp dẫn của bức tranh là điều không phải bàn cãi. Từ khi ra mắt, “Thiếu nữ bên hoa huệ” đã
được khán giả trong và ngoài nước yêu thích. Có nhiều người ngỏ lời mua tranh nhưng tác giả không
bán. Về sau, số phận của bức tranh cũng trở nên vô cùng lận đận. Ban đầu, bức tranh được treo tại nhà
riêng của họa sĩ Tô Ngọc Vân. Do chiến tranh, cả gia đình tác giả phải đi tản cư. Đến khi hòa bình lập
lại, bức tranh đã trở thành vật sở hữu của một người khác. Sau đó, tác phẩm lại nhiều lần đổi chủ. Hiện
nay, đa số những “Thiếu nữ bên hoa huệ” mà công chúng có dịp chiêm ngưỡng đều chỉ là tranh chép.
Đây quả thực là một điều đáng tiếc cho một tác phẩm nghệ thuật có một không hai của nước nhà.
3.KB
“Thiếu nữ bên hoa huệ” là sự kết hợp tinh tế giữa cốt cách Á Đông với sự tân kì của mỹ thuật phương
Tây. Sức sống của tác phẩm quả thực đã vượt ra khỏi chiếc khung kính trang nghiêm để đến với lớp
lớp thế hệ con người yêu hội họa.
Bài văn mẫu đề số 2
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
(Kiều - Nguyễn Du)
Đấy là tuyên ngôn về phương pháp sáng tác của Nguyễn Du. “Những điều trông thấy” là tất cả sức
mạnh của thi phẩm Nguyễn Du. Vi con mắt nhìn thấu cả sáu cõi của thi nhân cũng là tấm lòng yêu
thương mênh mông của thi nhân đôi với con người, với nhân loại. Trong chuyến đi sứ Trung Quốc,
Nguyễn Du đã nhìn thấy nhiều điều đau lòng, nhà thơ đã ghi lại trong bài “Sở kiến hành” (bài hành
những điều trông thấy), không hoa mĩ mà kinh động lòng người.
Bài Những điều trông thấy (Sở kiến hành) rút trong tập thơ Bắc hành tạp lục (lục gồm những bài thơ
được sáng tác trong thời gian Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc (năm 1813). Với cảm hứng nhân đạo,
Nguyễn Du đã phản ánh hai cảnh đời trái ngược trong xã hội phong kiến thối nát bất công. Cảnh đời
nào cũng gây cho người đọc nhiều ám ảnh. Bài thơ được viết theo thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
Nhà thơ ghi lại nhiều chi tiết hiện thực cụ thể và nói lên cảm xúc ý nghĩ của mình trước những điều
trông thấy nơi đất khách quê người xa lạ.
Cảnh đời thứ nhất là cảnh đời bốn mẹ con người ăn mày: “Một mẹ cùng ba con – Lê la bên đường nọ”.
Hành trang là một chiếc giỏ đựng “mớ rau lẫn tấm cám”. Người mẹ bế con thơ; đoàn hành khất nhếch
nhác, tiều tụy. Bụng đói, áo quần rách rưới đáng thương:
"Nửa ngày bụng vẫn không
Áo quần thật lam lũ."
Vì “đói kém phải xiêu bạt”, người mẹ càng thương đàn con thơ. Vừa tủi thân vừa đau khổ. Bao nhiêu
nước mắt đã chảy: “Gặp người chẳng dám nhìn – Lệ sa vạt áo ướt”. Nhà thơ thương xót trước một
cảnh đời nhiều cay đắng, bất hạnh, tự hỏi, người mẹ kia “nuôi bốn miệng sao nổi!”. Sự trống vắng hình
ảnh người chồng, người cha trong đoàn ăn mày gây cho chúng ta nhiều thương cảm. Người chồng,
người cha đã chết đói, đi lính thú biên ải xa xôi? Hay đã giãi thây trên chiến địa? Một vệt đen đầy ám
ảnh phủ lên bức tranh bốn mẹ con người ăn mày.
Nguyễn Du không chỉ tả, chỉ ghi lại những điều trông thấy, mà còn nói lên cảm nghĩ đầy trắc ẩn của
lòng mình. Ông lo lắng, đau xót cho tính mệnh người mẹ và lũ con thơ đau khổ, đói rét. Trước mắt
đáng thương là vực thẳm. Không chết đói thì cũng sẽ làm mồi cho thú dữ:
"Chết lăn rãnh đến noi
Thịt da béo cầy sói."
Trước đau thương của người đời, đất trời cũng tê tái. Gió lạnh càng thêm lạnh. Mặt trời vàng úa lại.
Người đi sứ, khách qua đường, rầu rĩ xót thương, cả một không gian đầy lệ. Nỗi đau đớn của người mẹ
“như xé lòng”. Nguyễn Du mượn ngoại cảnh (gió, mặt trời) để tô đậm nỗi đau của nhân gian. Đó là nét
vẽ thần tình nhất, tạo nên giá trị tố cáo hiện thực và tinh thần nhân đạo của bức tranh bốn mẹ con
người ăn mày:
"... Nỗi đau như xé lòng
Trông mặt trời vàng úa.
Gió lạnh bỗng đâu về
Khách qua đường thương xót."
Nguyễn Du với cảm hứng nhân đạo, ông luôn luôn hướng về những con người đau khổ trong cuộc đời,
nhất là những phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh như Đạm Tiên. Thúy Kiểu, người kĩ nữ gảy đàn ở Long
Thành, v.v… Đây là lần thứ hai ông viết về người ăn mày đau khổ. Trong “Văn chiêu hồn” ông từng
viết:
"Cũng có kẻ nằm cầu gối đất,
Dõi tháng ngày hành khất ngược xuôi.
Thương thay cũng một kiếp người
Sống nhờ hàng xứ, chết vùi đường quan."
Phần tiếp theo, Nguyễn Du nói về cảnh đời của bọn quan lại qua bữa tiệc trạm Tây Hà – bữa tiệc đón
tiếp sứ thần nước Nam. Nguyễn Du là chánh sứ. Vì thế những điều ông tả trong bữa tiệc là “những
điều trông thấy” rất chân thực. Có bao thứ cao lương mĩ vị: “Nào vây cá, gân hươu – Lợn dê mâm đầy
ngút”. Một nét vẽ tương phản có giá trị tố cáo sâu sắc những bất công trong xã hội. Trong lúc bốn me
con người ăn mày “nửa ngày bụng vẫn không”, cầm hơi bằng rau, cám thì bọn quan trên sống xa hoa,
thừa mứa:
"Quan lớn không chọc đũa
Tùy tùng chỉ nếm chút
Thức ăn thừa đổ đi
Chó no ngấy món ngon."
Có lần bình luận tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, nhà văn Nguyễn Tuân có nói Ngô Tất Tô' đưa
chó vào tác phẩm đế lộ bản chất chó của vợ chồng Nghị Quế. Vậy thì, phải chăng hơn hai trăm năm
trước, Nguyễn Du đưa chó vào thơ đế lộ bản chất chó của bọn quan lại đương thời? Nghịch lí cuộc đời
càng trở nên vô cùng xót xa. Câu thơ cảm thán diễn tả nỗi đau đời – nỗi đau như vò xé tâm hồn nhà
thơ. Đó là “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”:
"Biết đâu bên đường quan
Có mẹ con cực khổ!"
Trước hai cảnh đời trái ngược như vậy, hai câu thơ cuối như một câu hỏi vô tình nhưng hàm ẩn một ý
nghĩa phê phán sâu sắc:
"Ai vẽ bức tranh này
Dâng lên nhà vua rõ!"
Nguyễn Du đã vận dụng sáng tạo một điển tích Trung Hoa. Theo Tống sử, dưới chính quyển nhà Tống,
khi Vương An Thạch làm tể tướng, hạn hán mất mùa, dân tình đói rét. Họ phải dỡ nhà bán. Ăn mày
kéo đi đầy đường. Trịnh Hiệp làm chức giám môn (gác cổng thành) bèn vẽ một bức tranh ghi lại cảnh
ấy, tìm cách dâng lên vua nhà Tống… Cái hay của điển tích là làm cho văn chương hàm súc, kín đáo,
gây hứng thú thẩm mĩ và trí tuệ. Thật ra, Nguyễn Du đã “vẽ bức tranh này” với hai cảnh đời bằng tấm
lòng nhân đạo cao cả. Bài thơ tuy nói vể “những điều trông thấv trên đất nước Trung Hoa, nhưng lại
mang tính ám chỉ rất rõ. Xã hội phong kiến Trung Quốc cũng như xã hội Việt Nam dưới thời nhà
Nguyễn đầy rẫy thối nát. bất công. Bọn vua chúa, quan lại sống xa hoa, hưởng lạc trên nước mắt, mồ
hôi nhân dân. Hàng triệu dân đen bị xô đẩy vào cảnh bần hàn đau khổ.
“Ai vẽ bức tranh này – Dâng lên nhà vua rõ” – Nguyễn Du đã mượn điển cố để hỏi thế thôi, nhưng ông
đã vẽ bức tranh ấy với hai cảnh đời ngang trái “kẻ ăn không hết người lần không ra” – một bức tranh
bằng ngôn ngữ thi ca. Bức tranh hiện thực sống động có ý nghĩa phê phán bọn vua quan vô trách
nhiệm trưóc nỗi thống khổ của nhân dân. Nhà thơ đã nói lên một sự thật đau lòng về quyền sống và
hạnh phúc của những con người nhỏ bé dưới đáy xã hội. Ngòi bút tả thực trong miêu tả, tự sự kết hợp
với biểu lộ cảm xúc trực tiếp, sâu sắc trong vận dụng điển tích văn học đã tạo nên giá trị nhân bản của
áng thơ này. Có thể nói, Nguyễn Du là nhà thơ cổ điển Việt Nam viết về nỗi đau khổ của nhân dân một
cách sâu sắc nhất, cảm động nhất.
Tác phẩm “Sở kiến hành” chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ sáng tác của Nguyễn Du. Tác
phẩm đã biểu hiện một cách sâu sắc tinh thần nhân đạo cao quý của đại thi hào. Tấm lòng của nhà thơ
đã hướng về những người nghèo khổ bất hạnh, bất kể đó là người Việt Nam hay người Trung Quốc.
Tình cảm thương yêu của ông đã vươn đến tầm nhân loại. Sức mạnh của phương pháp sáng tác của
Nguyễn Du là ở những điều trông thấy. Trong “Sở kiến hành” có tiểu xảo gì đâu, cũng không hoa mĩ
vậy mà bài hành đã làm kinh động lòng người. Thế mới biết, trong đời sống, cũng như trong nghệ
thuật, tấm lòng mới tạo ra điều kì diệu. Đúng như thi hào Nguyễn Du đã nói: “Chữ tâm kia mới bằng
ba chữ tài” (Truyện Kiều).
* Củng cố, dặn dò:
- Hoàn thiện bài viết
- Chuẩn bị ôn tập về truyện
Ngày
tháng 10 năm 2023
TPCM kí duyệt
Trần Thị Thanh Bình
 






Các ý kiến mới nhất